Bản chất các nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh cho cá cảnh

Bản chất các nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh cho cá cảnh

Hiện nay với xu hướng thâm canh trong nghề nuôi thủy sản thì bệnh cá xảy ra trong quá trình nuôi – nhất là vào giai đoạn chuyển mùa là điều khó tránh

Bệnh của cá luôn là vấn đề đau đầu cho tất cả những người nuôi, thế nhưng những hiểu biết về bệnh của cá vẫn còn quá sơ sài và ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với cá cảnh. Trong đó, những nguyên nhân gây bệnh cho cá là một trong những yếu tố quyết định chúng ta có khả năng điều trị bệnh hay không. Bài viết sau giúp chúng ta hệ thống lại những nguyên nhân gây bệnh cho cá cảnh nhằm có một cách nhìn tổng quan hơn về một lĩnh vực rất cần quan tâm.

Bệnh gây ra từ môi trường

Các thành phần môi trường có hại cho sức khỏe của cá tác động chủ yếu theo hai cách: một cách trực tiếp, cách này gây ra cùng một lúc vừa tác động gây hại riêng của nó vừa gây sốc cho cá; một cách gián tiếp tức là tác động trên các thành phần khác nhau của môi trường làm chúng trở nên nguy hiểm và không thích hợp cho đời sống của cá (ví dụ : pH thấp sẽ làm gia tăng độc tố các kim loại nặng) hoặc kích thích sự phát triển của các sinh vật gây hại (vi khuẩn gây hại, ký sinh trùng).

Bản chất các nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh cho cá cảnh - Ảnh 1

Tính chất vật lý của nước & bệnh cá

Nhiệt độ

Nhiệt độ tác động lên sức khoẻ của cá theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp. Nếu có một khái niệm gọi là nhiệt độ tối ưu thì khái niệm đó rất chung bởi vì sự tối ưu này, trong cùng một loài, cũng thay đổi theo từng giai đoạn sinh lý, nhiệt độ để tạo trứng và tạo phôi khác với nhiệt độ cho sự phát triển. Tác động trực tiếp thường thấy nhất chính là sốc nhiệt độ (dao động từ 7°C so với nhiệt độ chung của loài), làm cho cá bị mất năng lượng và suy giảm trầm trọng hệ miễn dịch của cá. Ngoài ra, trong nuôi cá cảnh, nếu cách quá xa vùng nhiệt độ thích hợp trong thời gian dài, năng suất sẽ giảm thấp do giảm tính thèm ăn.

Thế nhưng trên thực tế, chính những tác động gián tiếp của nhiệt độ mới gây ra nhiều vấn đề. Đặc biệt, nhiệt độ sẽ làm thay đổi một số chỉ tiêu mà cá rất nhạy cảm như hàm lượng oxy hoà tan, sự phân tán ammonia trong nước hay sự gia tăng nồng độ các chất độc. Ngoài ra, người ta còn xác định nhiệt độ liên quan đến sự tăng sinh một số tảo độc, một số vi khuẩn tiêu thụ nhiều oxy, sự tăng trưởng của một vài vi sinh vật gây hại như trùng mỏ neo…

Độ đục hay những chất lơ lửng trong nước

Các chất lơ lửng trong nước là những phần tử chất rắn phân tán đều, có thể là khoáng chất hay chất hữu cơ. Tác động trực tiếp lên cá của những chất này là gây kích ứng mang làm rối loạn hô hấp, và đó cũng có thể là chỗ bám cho các vi khuẩn gây bệnh, một trong những nguyên nhân gây viêm loét mang. Thế nhưng, tác động gián tiếp còn nguy hiểm hơn nhiều ở chỗ những chất lơ lửng dễ dàng hấp thu năng lượng trong nước và làm chúng ta khó kiểm soát được nhiệt độ nước.

Ánh sáng mạnh tia cực tím và bệnh của cá

Ánh sáng mạnh và tia cực tím gây ra các tổn thương trên da như hoại tử vây lưng, vây bơi do tác động ăn mòn ngoại bì của ánh sáng, thường thấy trên vùng da ở lưng.

Chấn thương, nguồn gốc của stress và bệnh tật

Khi chúng ta thao tác mạnh trong hồ nuôi hoặc nuôi với mật độ quá dày thì rất dễ xảy ra những cú sốc cơ học, và những vết thương trong trường hợp đó sẽ phá huỷ nhanh chóng sức khỏe của cá. Những chấn thương có thể đến từ những thao tác như bắt cá, lựa cá, chuyển hồ, vận chuyển đi xa, tắm thuốc cho cá. Những chấn thương này làm cá thay đổi động thái thông thường, thay đổi kiểu bơi (giật mình, chà xát xuống đáy và thành hồ). Những vết thương trên da của các chấn thương này sẽ tạo điều kiện cho sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh có sẵn trên da hay hiện diện sẵn trong môi trường và đó chính là khởi phát của nhiều căn bệnh.

Rối loạn gây ra do những đặc tính hoá học của môi trường thuỷ sinh

Tính kiềm/toan (baz/axít):  Tác động trực tiếp của cả hai tác nhân là đều gây ra kích ứng da, thậm chí mòn da, làm cho cá tiết nhiều chất nhầy, xuất huyết ngoài da và gây chết. Ngoài ra, môi trường có tính axít kéo dài còn gây ra tình trạng viêm mang (stress cá).

Tác động gián tiếp có liên quan đến hiện tượng trúng độc: pH thấp sẽ làm gia tăng độc tính của kim loại nặng và nitrite. Ngược lại, pH cao sẽ làm gia tăng độc tính của ammonia. Trong nuôi cá, pH thích hợp thường nằm ở khoảng 7 đến 8. Giữa 6 đến 9 thường không có tác động trực tiếp của pH, tuy nhiên, độc tính của ammonia trong khoảng pH này vẫn còn nghi ngờ có khả năng xảy ra. Biểu hiện bệnh lý của tính axit thường ở những môi trường nước có độ kiềm yếu (<25mg/l bicarbonate) chủ yếu ở những vùng đất nghèo canxi. Trong những vùng nước tù, hàm lượng axit cũng tăng cao do chứa nhiều khí carbonic. Những người nuôi cá cảnh trong ao cũng cần lưu ý, hiện tượng quang hợp có thể làm thay đổi đến một độ pH mỗi ngày. Do vậy, rất nguy hiểm đến sức khoẻ của cá.

Bản chất các nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh cho cá cảnh - Ảnh 2

Hàm lượng canxi (và manhê)

Hàm lượng canxi và manhê liên quan trực tiếp đến một chỉ tiêu quan trọng là độ cứng của nước. Độ cứng của nước có hai ảnh hưởng quan trọng đến cuộc sống thuỷ sinh. Thứ nhất là ảnh hưởng đến hệ thống điều hoà thẩm thấu. Thứ hai là ảnh hưởng đến độ kiềm của nước.

Độ mặn

Mỗi loài cá sẽ có những yêu cầu khác nhau liên quan đến độ mặn. Do vậy, độ mặn cũng rất nguy hiểm nếu nằm ngoài giới hạn chịu đựng. Lý do là độ mặn có liên quan trực tiếp đến hệ thống điều hoà thẩm thấu muối/nước giữa cơ thể và môi trường xung quanh. Muối có khuynh hướng đi từ nơi có nồng độ cao sang nơi có nồng độ thấp, còn nước thì ngược lại. Do vậy, trong môi trường nước ngọt, nước từ bên ngoài có khuynh hướng đi vào trong cơ thể qua mang nên cá nước ngọt không uống nước.

Các khí hoà tan

– Hiện tượng thiếu oxy: Sẽ gây ra tình trạng khó thở hoặc làm giảm năng suất của cá (chậm lớn, dễ bệnh) và đó cũng là nguyên nhân gây stress cho cá. Trong ngành cá cảnh, hàm lượng oxy dưới 2mg/l xem như cá không thể lớn và không thể sinh sản.

– Khí carbonic: Hiếm khi là nguyên nhân gây ra bệnh lý. Tuy nhiên, nó sẽ làm tăng khả năng axit hoá đối với môi trường có độ kiềm thấp.

Rối loạn gây ra do ammonia và nitrite

Ammonia và nitrite là hai chất chính của chu trình chuyển hoá nitơ trong nước, sinh ra các chất thải của cá và các động vật thủy sinh, từ thức ăn thừa rớt xuống đáy hồ. Ammonia gây độc bắt đầu khi nồng độ vượt trên 0,07mg/l với biểu hiện đầu tiên là chậm lớn. Nitrite bắt đầu gây độc nếu hàm lượng vượt quá 0,1 mg/l với những bệnh tích trên mạng. Còn rất nhiều nguyên nhân hóa học khác gây ra bất lợi cho cá. Tuy nhiên, các nguyên nhân này thường ít được quan tâm do điều kiện đo đạc khó khăn và thường kết hợp với nhau nên rất phức tạp.

Bệnh do thức ăn

Có cả một câu chuyện dài về thức ăn dinh dưỡng. Tuy nhiên, trên tổng quan có hai nguyên nhân chính.

Rối loạn do lượng thức ăn

Lượng thức ăn hấp thu không đủ có thể là do khẩu phần cung cấp không đủ, nhưng thường thấy trong nuôi cá nhất là do thiếu oxy hoà tan trong nước làm cá không thể hấp thu đủ lượng thức ăn; hoặc khi hàm lượng ammonia quá cao cũng gây ra tình trạng tương tự.

Rối loan về chất

– Độc chất trong thức ăn: Thường là do nguyên liệu làm thức ăn nhiễm độc. Do vậy, khi chế biến dễ gây ngộ độc. Thường thấy nhất là ngộ độc độc tố nấm mốc thường xảy ra vào mùa mưa, do nguồn nguyên liệu thực vật dễ bị ẩm mốc sinh ra độc tố.

– Thiếu hụt vitamin: vitamin đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị bệnh cá là vitamin C. Sự thiếu hụt vitamin C dẫn đến giảm sức đề kháng của cá và tăng sự nhảy cảm đối với bệnh. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý vitamin C dùng trong thủy sản cần độ bền cao hơn so với vitamin C cho các động vật trên cạn. Ngoài ra, vitamin E cũng rất quan trọng trong sự kích thích hệ thông miễn dịch của cá hoạt động.

– Mất cân đối về chất đạm và chất béo.

Bản chất các nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh cho cá cảnh - Ảnh 3

Bệnh gây ra do các tác nhân sinh học

Bệnh gây ra do virus

Trên các loài cá, người ta xác định được hơn 40 loại virus gây bệnh. Tác động trực tiếp của virus ít được ghi nhận và chỉ một vài loài virus có độc tính cao là có thể gây chết cá. Nhưng quan trọng nhất là virus đặc biệt nguy hiểm vì luôn hiện diện trong môi trường và không thể dùng kháng sinh để tiêu diệt. Khi cá có biểu hiện suy yếu về hệ thống miễn dịch như sau khi bị stress, do thức ăn không đủ dưỡng chất… thì virus sẽ tấn công và mở đường cho tất cả các mầm bệnh khác.

Bệnh gây ra do vi khuẩn

Vi khuẩn là tác nhân gây ra đa số các bệnh trầm trọng trên cá, trong đó thường gặp trên cá cảnh nhất là Aeromonas sp chúng là vi khuẩn thường gây lở loét trên cá, cả nước ngọt lẫn nước mặn. Bệnh do vi khuẩn có thể được điều trị bằng kháng sinh thích hợp, tuy nhiên điều này không dễ dàng vì phần lớn các trường hợp nhiễm bệnh do vi khuẩn đều là phụ nhiễm. Cá sau khi bị nhiễm bởi các mầm bệnh khác như virus, ký sinh trùng… hoặc là do môi trường không thuận lợi làm cá bị suy giảm sức đề kháng, lúc đó cá rất dễ bị vi khuẩn tấn công. Hơn nữa, thông thường cá bị tấn công cùng một lúc bởi nhiều vi khuẩn nên ngay cả một số xét nghiệm cũng không còn chính xác, tìm ra loại vi khuẩn này nhưng thực tế gây bệnh lại là vi khuẩn khác.

Bệnh gây ra do nấm

Nấm thường tấn công vào mang và thân cá, còn một số loại khác chuyên tấn công vào nội tạng cá thì ít được nghiên cứu hơn. Bệnh nấm ít gây nguy hiểm cho cá, điều nguy hiểm nhất là sau khi nấm tăng sinh phát triển trên mô sẽ để lại những vết thương mỡ, điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh khác xâm nhập gây chết cá. Tuy nhiên, bệnh nấm rất dễ điều trị nếu chúng ta phát hiện sớm.Bệnh gây ra do ký sinh trùng Ký sinh trùng gồm hai nhóm: nhóm ký sinh trên nội tạng gọi là nội ký sinh trùng, nhóm ngoại ký sinh chủ yếu ký sinh trên mang cá (sáng mang) và trên da.

Ký sinh trùng không gây chết cá hàng loạt nhưng rải rác từ từ và làm giảm năng suất, cá mệt mỏi, ăn ít, chậm lớn. Một số ký sinh trùng khi bám vào cơ thể cá có khả năng tiết ra độc tố gây hại cho cá, một số khác chỉ hút chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, ký sinh trùng nào khi bám vào cơ thể cũng gây ra một vết thương, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn gây bệnh.

Kết luận

Chúng ta nhận ra một điều rằng cho dù các tác nhân sinh học gây bệnh cho cá có nguy hiểm đến mức nào chăng nữa thì cũng xuất phát từ môi trường nuôi, từ lượng nước chúng ta thay mỗi ngày, từ loại thức ăn cá ăn mỗi ngày… Do vậy, việc quản lý môi trường nuôi là rất quan trọng. Cá cảnh sống trong môi trường nước nên hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng nước và các sinh vật có trong nước. Nếu chúng ta có một cái nhìn tổng quan hơn, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội để thành công hơn.

Nguồn tổng hợp