Kỷ niệm 50 ngày thành lập và rắc rối trong việc mở rộng NATO

Kỷ niệm 50 ngày thành lập và rắc rối trong việc mở rộng NATO

Ngày 12-3-1999 vừa qua, Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Czech đã chính thức được kết nạp vào khối NATO (Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương).

Việc mở rộng NATO gặp rắc rối là khi sự kiện này xảy ra trước ngay 4-4-1999 khi NATO chuẩn bị kỷ niệm 50 năm ngày thành lập của mình. Trong nửa thế kỷ qua, NATO đã làm gì cho thế giới và việc tồn tại của tổ chức này hiện nay có cần thiết khi Chiến tranh lạnh đã kết thúc cách đây một thập niên?

“Đẩy Liên Xô ra; đưa Mỹ vào và buộc Đức phải cúi đầu”

Ngay sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, thế giới lưỡng cực bắt đầu hình thành, với Đông và Tây, với tư bản và chủ nghĩa xã hội, với Mỹ và Liên Xô. Sự lớn mạnh của Liên Xô khiến Mỹ phải lúng túng tìm cách ngăn chặn ảnh hưởng. Một trong những hệ quả đầu tiên của mối mâu thuẫn này là sự phân cắt nước Đức mà ngay sau khi kết thúc Thế chiến, cả Mỹ cũng như Liên Xô đều muốn nắm thóp. Hơn nữa, di sản của Đệ tam đế chế đã làm lan rộng thêm ý  tưởng về một nền an ninh bất ổn. Hàng loạt sự kiện này đã khiến Anh và Pháp ký Hiệp ước Dunkirk vào năm 1947 với nội dung là liên minh quân sự nhằm tránh mầm mống sinh ra một cuộc chiến mới.

Thế giới lưỡng cực giữa Mỹ và Nga

Sau đó, khi các nước Đông Âu từ chối Chương trình phục hồi châu Âu (tức Kế hoạch Marshall mà mưu đồ chính là lôi kéo các nước này theo Mỹ) và rồi Cominform (một tổ chức Cộng sản châu Âu) được thành lập năm 1947, các nước Tây Âu đã lục tục hội họp để cho ra đời Hiệp ước Brussels năm 1948. Một trong những nội dung chính của hiệp ước này cũng là thành lập liên minh quân sự một khi có “sự cố”. Cuối cùng, sự cô lập Berlin vào tháng 3-1948 đã dẫn đến nhiều cuộc thương thảo giữa Tây Âu, Canada và Mỹ với kết quả cuối cùng là Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương ra đời.

Tổ chức NATO chính thức ra đời

Ngày 4-4-1949,12 nước đã ký vào hiệp ước này để chính thức thành lập NATO – gồm Mỹ, Pháp, Anh, Ý, Bỉ, Canada, Iceland, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch và Bồ Đào Nha. Trong giai đoạn đầu, NATO đề ra ba chức năng chủ yếu: Đẩy Liên Xô ra; đưa Mỹ vào và buộc Đức phải cúi đầu. Trong suốt 40 năm chiến tranh lạnh, NATO luôn tìm cách để làm tốt ba chức năng này. Tuy nhiên, do là một tổ chức quốc tế, NATO mang ít tai tiếng hơn so với các cơ quan và tổ chức khác như CIA hay FBI thời chiến tranh lạnh. Việc làm chủ yếu của NATO là giương oai diễu võ để hầm hè với khối xã hội chủ nghĩa. Bởi thế, “cộng đồng”  NATO bị Mỹ chi phối mạnh, cả về “phần cứng” là trang thiết bị quân sự lẫn “phần mềm” là ý tuởng cũng như đường hướng hoạt động.

Các nước thành viên của tổ chức NATO

Nội dung cuộc mở rộng NATO

Khi chiến tranh lạnh kết thúc (đầu thập niên 1990), người ta nghĩ rằng NATO đã hết thời. Có thể nào một liên minh quân sự được thành lập với mục đích chính là đối phó với một “mối đe dọa” lại tiếp tục tồn tại khi mà “mối đe dọa” đó không còn nữa? Từ 1990-1993, hàng loạt kiến nghị khác nhau đã được tung ra nhằm tìm cách thay đổi cấu trúc, phương châm hoạt đông và thậm chí cả ý tưởng thay thế hẳn NATO bằng một tổ chức khác. Tháng 1-1994, Ủy ban Bắc Đại Tây Dương (NAC) – nơi đưa ra các quyết định chủ yếu của NATO – đã tung ra các kế hoạch đầy tham vọng cho cải cách “từ trong ra ngoài” của tổ chức này.

Phần “bên ngoài”, NATO sẽ mở rộng bằng cách kết nạp thêm vài nước trước kia thuộc khối xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu. Tháng 7-1997, Hội nghị thượng đỉnh ở Madrid (Tây Ban Nha) đã chính thức mời Cộng hòa Czech, Hungary và Ba Lan gia nhập NATO. Rumam, Slovenia và Slovakia cũng tỏ ra muốn nhận được lời mời trong tương lai. Tuy nhiên, NATO lại thờ ơ trước sự háo hức của Albania, Bulgaria, Macedonia và các nước Baltic gồm Estonia, Latvia và Lithuania. Phần “bên trong”, NATO nhấn mạnh đến vai trò của châu Âu trong khối mà từ xưa đến nay vẫn bị Mỹ chi phối.

NATO kết nạp thêm vài nước vào tổ chức

Cuộc cải cách này được thiết kế với ý định thành lập một “trục châu Âu” để cho phép các nước này có thể lo liệu được chuyện an ninh cho riêng mình mà không có sự hỗ trợ của quân đội Mỹ. Việc mở rộng khối, như cách biện minh của những người ủng hộ, là nhằm tạo ra một cấu trúc chính trị hơn là quân sự, thiết lập sự ổn định chính trị để từ đó giúp ổn định kinh tế và phát triển xã hội. Hơn nữa, có mở rộng khối thì những công tác như gìn giữ hòa bình mới dễ dàng được thực thi và sẽ giúp tăng khả năng dàn quân trên phạm vi khu vục rộng hơn. (phần này, như nhiều ý kiến chống đối, NATO dường như có ý lấn sân LHQ).

Tuy nhiên, chương trình nghị sự của công cuộc cải cách đã gặp nhiều vướng mắc: khủng hoảng về quản lý, sự kiểm soát vũ khí, mạng lưới khủng bố quốc tế và vấn đề giải trừ vũ khí hóa học-hạt nhân… Hơn nữa, NATO cho dù có nói rộng đến thế nào đi nữa thì cũng không thể can dự vào các đối sách phát triển kinh tế của châu Âu, việc thuộc quyền điều hành của OSCE và EU.

Việc mở rộng NATO là sai lầm?

Mùa hè 1997, ngay trước khi các thành viên chuẩn bị nhóm họp tại Madrid nhằm bàn về việc mở rộng NATO, 46 viên chức cấp cao Mỹ (gồm các cựu thượng nghị sĩ, bộ trưởng nội các và đại sứ) đã nhất loạt ký vào lá đơn đệ trình lên Tổng thống Bill Clinton để nêu ra những lý do giải thích tại sao việc mở rộng NATO là “một sai lầm về chính sách có tầm lịch sử'’. “Xấu cho Nga, xấu cho bản thân NATO, xấu cho Mỹ và xấu cho châu Âu” – bản kiến nghị viết. Những người này cảnh báo rằng việc mở rộng NATO sẽ khiến người Nga hiểu lầm rằng Mỹ vẫn còn tư tưởng thù địch; làm suy yếu khả năng quốc phòng của các thành viên cũ; và làm hao tổn ngân sách chính phủ Mỹ hàng chục tỉ đôla.

Thậm chí, George Kennan – cựu viên chức ngoại giao Mỹ, người thai nghén chính sách “Containment” (kìm hãm sự lan tỏa của làn sóng Đỏ thời sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai) – cũng cho rằng quyết định mở rộng NATO là “sai lầm đáng chết nhất của chính sách Mỹ trong cả một kỷ nguyên sau Chiến tranh lạnh”. Kennan cho rằng việc mở rộng đã bị lệch hướng, vì vấn đề của châu Âu thì đã có các tổ chức quốc tế khác lo, như Liên hiệp quốc, Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE) và Liên minh châu Âu (EU). Vài ý kiến chí trích nặng nề còn cho rằng hành động này sẽ châm dầu cho một cuộc chiến tranh lạnh mới.

NATO mở rộng làm tăng sự thù địch đối với Nga

Một trong những vấn đề quan trọng nhất mà phe phản đối việc mở rộng NATO nêu lên là chuyện này có thể khai sinh ra sự thù địch từ phía người Nga. Các viên chức cấp cao của Nga đã nhiều lần công khai nói rằng một NATO to hơn chỉ đem lại nguy hiểm cho Nga, tạo điều kiện cho một liên minh thù địch nào đó dễ dàng tiếp cận sát biên giới Nga. NATO đã xoa dịu Nga bằng cách cho ra đời Đạo luật thành lập, ký tại Paris vào tháng 5-1997, thiết dựng một ủy ban liên hợp Nga-NATO qua đó cho phép Nga có quyền góp ý vào những kế hoạch của NATO.

Đồng thời, NATO cũng hứa rằng họ “không có ý định, không có kế hoạch và không có lý do gì để dàn các loại vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ các thành viên mới”. Tuy nhiên, Kremlin vẫn chưa yên tâm khi nêu rõ ý muốn rằng các nước Baltic (Estonia, Latvia và Lithuania – có biên giới nằm sát Nga) không được phép gia nhập NATO. Cuối cùng, một vấn đề quan trọng không kém là ai sẽ trả tiền phát sinh khi gia đình có thêm thành viên? Chính phủ Mỹ đánh giá rằng các chi phí có thể lên đến 60,6 tỉ USD-124,7 tỉ USD trong giai đoạn chấn chỉnh kéo dài 15 năm. Cho đến nay, không ai chịu bỏ ra món tiền này. Mỹ đưa ra ý kiến rằng họ sẽ trả 6% tổng chi phí và châu Âu chia nhau gánh phần còn lại.

Rốt cuộc, người ta vẫn phải chấp nhận sự tồn tại của một “NATO thứ ba” (“NATO thứ nhất” là liên minh quân sự hình thành năm 1949; “NATO thứ hai” là liên minh quân sự với những thay đổi cấu trúc năm 1951). NATO III khác hoàn toàn so với hai NATO trước kia, xét về chức năng, bộ máy và vai trò. Tuy nhiên, 18h55 giờ GMT ngày 24.3.1999, bất chấp sự phản đối của dư luận trên toàn thế giới, NATO đã mở đầu cuộc tấn công Nam Tư, một quốc gia có chủ quyền. Liệu luận điệu về một sự mềm dẻo hơn của NATO III, về cái gọi là “vai trò gìn giữ hòa bình của NATO” có đứng vững không?  

Nguồn tổng hợp