Tản văn của Mai Văn Tạo lấp lánh nghĩa cử cao đẹp

Tản văn của Mai Văn Tạo lấp lánh nghĩa cử cao đẹp

Nhà văn Mai văn Tạo tên khai sinh Nguyễn Thanh Tân, sinh năm 1924 tại xã Vĩnh Tế, đã có những đóng góp to lớn cho nền văn học Việt qua những tác phẩm Lấp lánh sắc màu, Đất quê hương.

Thật tình, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa biết đọt chà là ăn được hay không. Thôi thì cứ coi như một loại lá ăn được, như đọt xoài, đọt sộp, đọt mì, đọt khoai, đọt rau muống, đọt ngành ngạnh, đọt vừng, đọt mướp… lá chanh, lá bứa, lá giang, lá lốt… Cho dù có ăn được, làm sao mà no! Tôi mãi bận tâm về một câu hát. Câu hát ru xưa tôi đã thuộc đã nhớ từ hồi thơ trẻ, mỗi khi nhớ lại lòng cứ nao nao, bận bịu, xót xa. Lời lẽ bình thường lắm, mà sao nhớ đến cứ bùi ngùi xúc động.

Đói lòng ăn đọt chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già mõn hơi.

Mười bốn từ ca dao lục bát không tả trực tiếp cảnh khốn khó, cơ hàn, chỉ có cặp từ “đói lòng” và cụm từ “mẹ già mõn hơi" gợi lên cảnh ngộ đói nghèo của người mẹ và người con. Nghèo đến nỗi không đủ cơm cho hai mẹ con lây lất qua ngày. Cho dù bữa cơm muối rau, đạm bạc.

Tản văn của Mai Văn Tạo lấp lánh nghĩa cử cao đẹp - Ảnh 1

Hẳn là người con hiếu thảo vô cùng thương mẹ, đến tuổi biết nghĩ suy. Mẹ đã héo hắt lắm rồi, không còn sống nối bao lâu, rất gần với đất, mà khoảng cách càng xa cõi đời. Hẳn là người con này là một cỏ gái trẻ. Nữ giới bao giờ cũng sâu sắc, tinh tế hơn nam giới trong đời sống nội tâm.

Nhìn sắc diện, hình hài của mẹ, cô gái  cảm nhận mẹ đã “mõn hơi” rồi! Thương mẹ quá chừng. Thương xót, thương đau, thương đứt ruột bầm gan, thương khô nước mắt mà không có cách nào cứu vãn tình hình sức khoẻ của mẹ đã suy. Đau lòng biết mấy! Trong hát ru xưa có những người con thương mẹ, nhưng vì cảnh nghèo quá đỗi, chỉ biết tỏ lòng hiếu thảo, thương yêu bằng hành động thăm viếng đơn thuần:

Mẹ già dưới túp lều tranh

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

Nghèo vật chất thì đến với mẹ bằng tình, cái tình của đứa con nghèo hiếu thảo. Một đôi câu nói thiết tha, một bát nước lá rừng dâng mẹ. Đáng quí người con ấy rồi. Những người khác khá hơn một chút thì “Để con hát bội làm đào má coi”, cho mẹ vui giây phút. Một số người lại “bắt ốc hái rau cho mẹ nhờ’. Người khéo léo hơn thì “câu cá nấu xoài má ăn”. Cái đẹp của lòng hiếu thảo ngày xưa là người con tự nguyện, tự lòng đến với mẹ. “sớm thăm tối viếng”… mới yên dạ, thoả lòng.

Đáng thương những con người bởi nghèo khó phải lìa quê, lưu lạc xứ người kiếm sống, mang theo ước vọng không nguôi. Nếu chẳng may ngày về mẹ đã qua đời, thì người con hiếu ấy sẽ: “Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha”. Đợi gì đến món ngon vật lạ, lụa là, một nỗi nhớ thôi cũng đã để lại nghìn đời nét đẹp của phẩm chất.

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.

Nhớ mẹ, hầu như ai cũng nhớ, mỗi người có cái nhớ riêng mình. Nhiều cái nhớ lắm. Nhớ tiếng mẹ cười, nhớ lời mẹ dạy, nhớ lưng áo đen mốc trắng của mẹ nghèo, nhớ ánh mắt buồn của mẹ chiều mưa thiếu gạo. Nhớ những ngày mẹ dang nắng, dầm mưa kiếm ốc, kiếm cua cho đàn con nhỏ dại… Đáng yêu biết mấy cái nhớ cao quí, sâu xa!

Nhớ mẹ ngày xưa khốn khó, thời chưa có sữa bò, sữa bột, chất bột dinh dưỡng trẻ thơ, người mẹ nhai từng búng cơm, lừa từng miếng xương nhỏ xíu để cho vị ngon vị ngọt cơm, cá vào tận lưỡi con mình. Còn mẹ, dù bụng đói cồn cào, miệng đang nhai búng cơm ngon ngọt cũng không nuốt vào lòng. Búng cơm ấy để nuôi con. Con no rồi mẹ dặn lòng bằng củ khoai, tô nước lã, lại hát ru con.

Một bài ca dao nhân nghĩa trong Quốc văn giáo khoa thư, luân lý giáo khoa thư thời tôi còn bé, nhớ mãi đến tận bây giờ:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

Không chí riêng tôi mà biết bao người được học bài ca dao ấy, đến tuổi chiều tà mới nhận ra “nước trong nguồn”… Không bao giờ vơi, không bao giờ cạn.

Thế mà bài ca dao dạy làm người đáng yêu ấy, nhiều chục năm bị loại ra ngoài trang sách giáo khoa!

Có tài liệu viết: “Kinh thi là những bài ca dao cổ Trung Hoa, một học giả lớn thời ấy sưu tầm, tuyển chọn làm Kinh thi, dùng thi ca dạy làm người.

Mẹ ta dạy ta làm người bằng luân lý, hát ru: “Thờ mẹ kính cha mới nên thân người”.

Người xưa đặt chữ trung chữ hiếu làm đầu, tiết và hạnh theo sau. ‘Trai thời trung hiếu làm đầu! / Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”. Ngay trang đầu Lục Vân Tiên, cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu đã mở ra như vậy. Xa hơn nữa, văn chương cổ điển Trung Hoa chữ hiếu lại đặt trước chữ trung: “Cần trung thần do hiếu tử chi môn ”. Muốn có tôi trung phải tìm nơi con hiếu. Không có hiếu làm sao có được trung, nghĩa, nhân.

Xưa nay ta biết nhiều về Nhạc Phi là danh tướng lẫy lừng, đến Hàng Châu tôi được xem đoạn tiếu sử Nhạc Phi: “Thuở nhỏ Nhạc được mẹ dạy hiếu đễ, trung can. Mẹ dùng máu ngón tay xâm vào lưng Nhạc bốn đại tự “tận trung báo quốc".

Phi tuân từng lời mẹ dạy, sớm hôm giúp mẹ. Mẹ ốm đau Phi thức trắng trên giường. Trời oi bức Phi quạt cho mẹ ngủ yên…”.

Sinh thời, Bác Hồ cũng từng dạy ta:

“Trung với nước, hiếu với dân’’. Ai đã đánh tan mấy lũ giặc xâm lăng Tổ quốc? Ấy là những người con trung hiếu mà thuở nằm nôi đã nghe mẹ hát, đã ăn những búng cơm nhai từ miệng mẹ. Hỏi sao người con không thương mẹ hết dạ, hết lòng. Thương mẹ đến nỗi nghèo không đủ cơm ăn, người con ra rừng ăn lá để cơm nuôi mẹ, vì mẹ đã mỏi mòn. Cái nghĩa ấy lớn xiết bao, cái hiếu ấy đẹp biết nhường nào.

Lại có những người con gái hy sinh cả khát vọng tình yêu, khát vọng nhân bản muôn đời, để lo phụng dưỡng mẹ già: “Áo song khai quần lai lá hẹ/Nỡ dạ nào bỏ mẹ theo anh”. Chữ tình chữ hiếu trì kéo nhau", người con gái xưa bao giờ cũng về phía mẹ. Đây có phải là cái hạnh, đạo nghĩa làm con. Đời người mấy ai không một lần đắm đuối bể tình.

Trai gái yêu nhau tự nhiên như mưa nắng, yêu nhau rất thật, yêu đến nôi “ruột thắt gan bào”. Chứ nào phải thứ tình yêu phất phơ, lơ lửng. Đồng bằng sông cửu Long cho đến thời đại này, thời đại “người ta đi bằng tốc độ âm thanh, nói với nhau bằng tốc độ ánh sáng”, vẫn còn truyền tụng mãi bài hát ru tha thiết về tình và hiếu:

“Ngó lên Nam Vang thấy cây nằm nước

Ngó về sông Trước sóng bủa lao xao

Anh thương em ruột thắt gan bào

Biết em (có) thương lại chút nào hay không?"

Ôi, anh thương em nặng tình như vậy, thắm thiết đến nhường kia, làm sao có thể thờ ơ, hờ hững. Nhưng vì cái lẽ đương nhiên, cái niềm hiếu thảo, em phải cam lòng, chớ không phụ anh đâu. Anh có biết em đã khóc nhiều đêm, trằn trọc suốt đêm dài vì tiếng than da diết não nùng:

Tản văn của Mai Văn Tạo lấp lánh nghĩa cử cao đẹp - Ảnh 2

“Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Đất nào dốc bằng đất Nam Vang

Nghe tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ

Còn chút mẹ già biết bỏ ai nuôi”

Một sự từ khước đau lòng, một sự hy sinh đáng quý. Có phải vì thế mà bài hát đơn sơ, mộc mạc ngôn từ sống mãi với thời gian.

Còn biết bao câu hát ru hay và đẹp về tình tự, ngữ ngôn. Tôi cứ vấn vương bài hát “ăn đọt chà là”. Hình ảnh người con gái khổ nghèo, không đủ cơm cho mẹ cho mình, hàng bữa phải ăn lá cây để cơm nuôi mẹ sao mà xót mà thương, mà cảm phục. Nghĩ đến người con gái thuỳ mị, xinh xắn đang tuổi ăn, tuổi ngủ, ngày ngày bưng chén cơm đưa cho mẹ, mặt giả vui, miệng giả cười.

Nụ cười ấy đã quá cái giá ngàn vàng. Mẹ ăn xong người cọn gái lủi thủi ra rừng bứt lá mà nhai. Oi, con người! Đẹp đến như thế ư? Đôi lúc cô thẫn thờ nghĩ đến cái ngày mẹ phải ra đi, đôi măt xanh biếc ngây thơ của cô chợt buồn ảo não, đáng thương.

Trong kho báu hát ru còn biết bao bài hát hay và đẹp về tình tự, ngôn từ, sao hình tượng người con “ăn đọt chà là đê’ cơm nuôi mẹ”… cứ ám ảnh tôi. Lăm khi tôi nghĩ ngợi có phải đấy là đỉnh cao chói lọi về lòng hiếu thảo của người xưa.

Lời ru ngọt ngào mà da diết lay động tận nơi sâu thắm nhất lòng người. Càng nghe càng thảng thốt, càng bồi hồi thương mẹ, thương bà, lớp người hiếm hoi học vấn, không hề biết niêm luật thơ ca, lại đê’ lại cho ta một di sản văn hóa rực rỡ như ráng đỏ bình minh, một chất ngọt tuyệt diệu cho hồn người. 

Nguồn tổng hợp